Diễn đàn nghiên cứu trao đổi học thuật chuyên ngành luật
Nơi gặp gỡ của học viên luật (văn bằng I, II và sau đại học) thuộc ĐH Luật TP.HCM - Quản trị diễn đàn: Lương Thanh Quang - Nhà tài trợ: Cty Luật Hồng Long [url]http://www.honglonglaw.com[/url]
 
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Thành viênThành viên   NhómNhóm 
 DownloadDownload Cá nhânCá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng NhậpĐăng Nhập 



Phân biệt văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Diễn đàn nghiên cứu trao đổi học thuật chuyên ngành luật -> Luật Hành chính 4
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
QuangLT

Quản Trị Cao Cấp
Quản Trị Cao Cấp
<Hình đại diện không tìm thấy>

Giới tính: Giới tính:Nam
Tuổi: 41
Ngày tham gia: 05 10 2007
Số bài: 1530
Chủ đề: 629
Cám ơn: 87
Được cám ơn 373 lần trong 234 bài
Đến từ: Sài Gòn

Bài gửiGửi: Thứ Tư 02 12, 2009 4:02 pm    Tiêu đề: Phân biệt văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Tiêu chí phân biệt văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

Nguồn: Diễn đàn SV Hành chính http://hanhchinh.com.vn/forum/showthread.php?t=3917


Phân biệt văn bản quy phạm pháp luật (QPPL) của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong hệ thống văn bản QPPL của nhà nước về thực chất là phân biệt và xác định gianh giới quyền lực của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, phân biệt quyền lập quy của Chính phủ với quyền lập pháp của Quốc hội, phân biệt thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với thẩm quyền của các bộ và chính quyền địa phương. Đây là những vấn đề khó khăn và phức tạp, vì nó đụng chạm đến vấn đề phân công và thống nhất quyền lực trong tổ chức và hoạt động của nhà nước còn không ít quan điểm và cách tiếp cận khác nhau.

1 - Phân biệt văn bản QPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với văn bản lập pháp của Quốc hội.
Đây là vấn đề phức tạp nhất, vì nó là điểm quan trọng nhất để phân biệt quyền lập pháp của Quốc hội với quyền lập quy của Chính phủ, về thực chất là phân định mối quan hệ quyền lực giữa cơ quan có quyền lập hiến và lập pháp với cơ quan chấp hành của Quốc hội và hành chính nhà nước cao nhất có quyền lập quy. Vượt lên trên hết, đây còn là vấn đề còn không ít cách tiếp cận và quan điểm khác nhau liên quan đến việc xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước [1].
Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp. Tuy nhiên, theo quy trình lập pháp và thực tiễn lập pháp thời gian qua, Chính phủ có vị trí, vai trò rất lớn và quan trọng trong công tác lập pháp (Chính phủ là người chủ yếu đề xuất các sáng kiến lập pháp, xây dựng; soạn thảo 95% dự án luật, pháp lệnh. Các công đoạn chuẩn bị của Chính phủ quyết định chất lượng các dự án luật, pháp lệnh). Trên thực tế, quyền lập pháp của Quốc hội chỉ biểu hiện chủ yếu ở việc thông qua các dự án luật.
Song, việc thực hiện quyền lập quy của Chính phủ mới phức tạp hơn nhiều, bao gồm 3 hoạt động chủ yếu:
- Thứ nhất là chi tiết hóa, cụ thể hóa những quy định của luật thành những chính sách cụ thể, quyết định và thi hành những biện pháp cụ thể để thực hiện các quy định của luật, thực thi các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
- Thứ hai là chi tiết, cụ thể hóa những luật có tính chất khung, quy định có tính chất nguyên tắc của luật do Quốc hội ủy quyền.
- Thứ ba quy định những vấn đề cấp thiết cần phải được điều chỉnh nhưng chưa đủ điều kiện quy định thành luật theo thủ tục xin phép và được sự chấp thuận của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Hoạt động đầu là thể hiện thẩm quyền hiến định, độc lập của Chính phủ. Hai hoạt động sau, trên lý thuyết là thực hiện sự ủy quyền lập pháp của Quốc hội. Tuy nhiên, thực tế cho thấy sự ủy quyền này rất chung chung, làm cho phạm vi ủy quyền trở nên không có giới hạn cụ thể. Điều này biến Chính phủ trên thực tế phải gánh vác thêm chức năng lập pháp, xóa nhò ranh giới giữa lập pháp và hành pháp, do vậy, cơ sở để phân biệt luật với văn bản QPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trở nên mờ nhạt.
Thực trạng trên không chỉ phản ánh một thực tế về mối quan hệ chi phối, tác động qua lại lẫn nhau giữa quyền lập pháp và quyền lập quy, giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp và hành chính nhà nước cao nhất, mà quan trọng hơn nó phản ánh một thực tiễn sinh động, một truyền thống, một thành tựu, một giá trị trong cơ chế tổ chức thực hiện quyền lực của nhà nước ta được xác lập ngay khi mới thành lập năm 1945. Đó là xây dựng và thực hiện một nền hành chính mạnh mẽ theo tư tưởng của Hồ Chí Minh "Thực hiện một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân", phù hợp với xu thế phát triển của các nhà nước hiện đại trên thế giới.
Các đạo luật của Quốc hội và văn bản QPPL của cơ quan hành pháp được ban hành là các hình thức biểu hiện quyền lực của các cơ quan này, là công cụ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định. Do đó, về nguyên tắc, cơ sở và tiêu chí phân biệt các đạo luật với các văn bản QPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có thể được dựa trên nội dung các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ để xác định. Dựa trên nguyên tắc này, Luật ban hành văn bản QPPL 1996 đã xác định tính chất và phạm vi những vấn đề thuộc nội dung điều chỉnh của luật, nghị quyết của Quốc hội, của các văn bản QPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, nội dung một trong những chức năng của Quốc hội quy định tại điều 83 của Hiến pháp được lấy làm nội dung vấn đề thuộc phạm vi quy định của các đạo luật, còn nghị quyết của Quốc hội thì lấy nguyên văn một số quy định về quyền hạn và nhiệm vụ của Quốc hội quy định tại điều 84 của Hiến pháp ( khoản 3, 4, 5) và bổ sung thêm một số vấn đề như chính sách đối ngoại, quốc phòng an ninh, chế độ làm việc của Quốc hội... làm nội dung các vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị quyết. Như vậy, điểm mấu chốt chủ yếu để phân biệt luật với nghị quyết của Quốc hội là tính chất của vấn đề. Và nguyên tắc cụ thể được định hình ở đây là luật, nghị quyết của Quốc hội được ban hành để quyết định những vấn đề thuộc chức năng, thẩm quyền của Quốc hội.
Với nguyên tắc và tiêu chí như trên đã làm nẩy sinh vấn đề sau đây về mối quan hệ giữa luật và nghị quyết của Quốc hội.
- Thứ nhất: Không ít vấn đề quy định thuộc phạm vi của nghị quyết của Quốc hội như chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc... nhưng trên thực tế lại thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật như Luật Ngân sách, Luật Ngân hàng Nhà nước, Pháp lệnh Tôn giáo...
- Thứ hai: Do luật được ban hành để quyết định những vấn đề thuộc về chức năng của Quốc hội, và theo lôgích của khoản 2 Điều 20 của Luật ban hành văn bản QPPL thì nghị quyết của Quốc hội được ban hành để quyết định những vấn đề thuộc về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Quốc hội. Trong khi đó, chức năng được quan niệm là những phương diện hoạt động cơ bản của một cơ quan, tổ chức [2], còn nhiệm vụ, quyền hạn là sự cụ thể hóa chức năng của nó, là những giới hạn cụ thể về phạm vi đối tượng, phương thức và công cụ thực hiện các hoạt động đó.
Như vậy, rõ ràng lôgích ở đây là, nếu luật được Quốc hội ban hành là để quy định những vấn đề chung nhất, bao quát nhất và nguyên tắc cơ bản nhất thuộc về chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, thì nghị quyết của Quốc hội được ban hành để cụ thể hóa những vấn đề thuộc nội dung của luật và để thực hiện luật. Và tính thứ bậc đã xuất hiện: nghị quyết của Quốc hội không thể ở vị trí ngang bằng với luật. Mặt khác, về tính chất cũng khó có thể phân biệt được giữa nghị quyết của Quốc hội với nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật. Về thực chất lấy chức năng của Quốc hội để định hình khuôn khổ thể chế cho nội dung của luật và lấy các nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội làm khuôn khổ cho nội dung của nghị quyết của Quốc hội là lẫn lộn, không phân định được ranh giới giữa 2 loại nội dung văn bản này. Trên thực tế, cách thức quy định này dường như là nhằm tạo cho Quốc hội quyền tự do rộng lớn đến mức không có giới hạn trong việc ban hành luật và nghị quyết. Thực vậy, với chức năng "quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân" thì quyền lực chi phối của Quốc hội là bao trùm lên toàn bộ các mặt, các lĩnh vực đời sống xã hội. Trong khi đó chỉ quy định mang tính định tính rất chung, rất khó lượng định được cụ thể: "luật quy định những vấn đề cơ bản, quan trọng...", mà bỏ qua một đặc trưng rất quan trọng của luật là chỉ điều chỉnh những vấn đề mang tính ổn định cao. Thực tế cho thấy không ít luật được ban hành để điều chỉnh những vấn đề, những quan hệ chưa thực sự rõ hình hài, chưa thực sự ổn định (mặc dù chúng là cơ bản và quan trọng), và hệ quả là sau một thời gian ngắn sau khi ban hành và thực hiện, những luật đó đã phải đứng trước yêu cầu phải được sửa đổi, bổ sung, thậm chí được sửa đổi, bổ sung nhiều lần (không đơn giản chỉ vì chất lượng).
Ngoài ra, liên quan đến mối quan hệ quyết định và thực hiện chính sách giữa Quốc hội với Chính phủ. Hiến pháp quy định Quốc hội có quyền quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, các chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; Chính phủ có nhiệm vụ thực hiện các chính sách này. Mặc dù, Hiến pháp không quy định cho Chính phủ có quyền ban hành chính sách, nhưng đến Luật Tổ chức Chính phủ 2001 thì Chính phủ được quy định có quyền quyết định các chính sách cụ thể trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, khoa học công nghệ, văn hóa, giáo dục, tôn giáo, đối ngoại... Rõ ràng có 3 khái niệm: Chính sách cơ bản, chính sách và chính sách cụ thể không có các tiêu chí cụ thể để phân biệt.
Khác với cách tiếp cận đối với luật, nghị quyết của Quốc hội, quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 của Điều 56 [3] và quy định tại Điều 57 Luật ban hành văn bản QPPL 1996 đã sử dụng phương pháp khái quát các nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ để xác định các vấn đề thuộc nội dung của các văn bản QPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Điểm khác cơ bản là các nhà lập pháp đã không sử dụng nội dung các chức năng của Chính phủ để định hình khuôn khổ cho nội dung các văn bản QPPL của Chính phủ.
Có thể dễ nhận thấy các quy định cụ thể của Luật ban hành văn bản QPPL về những vấn đề thuộc nội dung các văn bản QPPL của Quốc hội và của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ như nói ở trên còn quá chung chung, chỉ mang tính định tính, đơn giản áp đặt một chiều các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để định hình khuôn khổ thể chế cho sự thể hiện nội dung của văn bản mà không tính đến tính chất, đặc trưng, đặc điểm của mỗi loại hình văn bản. Trên thực tế những quy định của Luật ban hành văn bản QPPL chủ yếu chỉ có ý nghĩa nhằm để phân biệt giữa luật với nghị quyết của Quốc hội; giữa nghị quyết với nghị định của Chính phủ, giữa quyết định với chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; giữa văn bản của Chính phủ với văn bản của Thủ tướng Chính phủ. Và dường như các nhà lập pháp khi thông qua Luật này cho rằng với quan niệm văn bản QPPL của Quốc hội, của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được ban hành là để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các thiết chế này, thì không cần thiết phải xác định và phân biệt các điều kiện, tính chất, phạm vi các vấn đề thuộc nội dung điều chỉnh giữa các văn bản QPPL của Quốc hội và của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, vì tự thân các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã nói lên những điều đó. Điều này thể hiện một cách nhìn phiến diện về văn bản QPPL, coi chúng đơn giản chỉ là hình thức biểu hiện quyền lực nhà nước, một công cụ quản lý của nhà nước, mà không nhận thức đầy đủ rằng văn bản QPPL còn là một "khế ước xã hội", là phương thức thể hiện quyền và lợi ích chung của xã hội ở các cấp độ khác nhau, là phương tiện thực hiện quyền làm chủ xã hội của các tổ chức ngoài nhà nước và công dân (của xã hội dân sự nói chung), nhất là không tính đến những yêu cầu khắt khe, đầy đủ về nội dung và tính chất của những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của các hình thức văn bản.
Một vấn đề cũng rất quan trọng là Chính phủ ban hành nghị định độc lập đặt ra những quy phạm mới để điều chỉnh những vấn đề hết sức cần thiết nhưng chưa thể quy định thành luật để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước (được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 56 Luật ban hành văn bản QPPL 1996. Vấn đề mang tính truyền thống lịch sử này ngày nay theo quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền được cho là sự ủy quyền lập pháp của Quốc hội cho Chính phủ, mặc dù trước đây (trước khi ban hành Luật ban hành văn bản QPPL 1996) nó chưa bao giờ được Quốc hội quy định. Tuy nhiên, phạm vi và mục đích ủy quyền ở đây là rất rộng lớn: "để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội"; rộng như vậy trên thực tế là trở nên không thể giới hạn được phạm vi ủy quyền, điều đó có nghĩa là Chính phủ có quyền ban hành nghị định điều chỉnh những vấn đề phát sinh thuộc các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội với 3 điều kiện: "hết sức cần thiết", "chưa đủ điều kiện để xây dựng thành luật" và "được sự đồng ý của ủy ban thường vụ Quốc hội".
Cũng cần phải nói thêm về một quy định của Hiến pháp liên quan đến nội dung luật: "Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định"[4]. Quyền và nghĩa vụ của công dân là một lĩnh vực rất rộng lớn và luôn vận động và phát triển không ngừng. Vậy là quy định này của Hiến pháp đã không tính đến một đặc trưng của luật là chỉ quy định những vấn đề cơ bản, có tính ổn định lâu dài. Những quyền và nghĩa vụ của công dân mới hình thành, chưa ổn định hoặc không mang tính ổn định thì không thể đưa vào phạm vi điều chỉnh của luật được. Chính vì vậy, trên thực tế chỉ có những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mới thuộc nội dung quy định của Hiến pháp và luật, còn lại là do các văn bản dưới luật điều chỉnh.
Rõ ràng cần phải tiến thêm một bước nữa trong việc làm rõ hơn mối quan hệ phân công, phối hợp giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp thông qua việc xác định các tiêu chí phân biệt giữa văn bản lập pháp với văn bản lập quy. Việc xây dựng các tiêu chí phân biệt sẽ tạo cơ sở cho việc lựa chọn hình thức văn bản thích hợp đối với mỗi một loại vấn đề cụ thể, góp phần vào việc giải quyết có hiệu quả vấn đề đó, đồng thời làm sáng tỏ thẩm quyền lập pháp, lập quy.
Việc xác định tiêu chí phân biệt văn bản lập pháp và văn bản lập quy phải dựa trên các cơ sở sau đây:
- Thứ nhất là phải dựa vào nguyên tắc hiến định: "Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp".
- Thứ hai là các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý của cơ quan có thẩm quyền ban hành;
- Thứ ba là tính chất, vị trí, vai trò và đặc trưng cơ bản của loại hình văn bản QPPL.
Trên cơ sở các nguyên tắc nói trên, có thể định hình 4 tiêu chí chung, cơ bản sau đây để phân biệt văn bản lập quy với văn bản lập pháp:
- Thứ nhất: Phạm vi điều chỉnh của văn bản;
- Thứ hai: Tính chất của vấn đề được văn bản quy định;
- Thứ ba: Mức độ ổn định của các quan hệ được điều chỉnh;
- Thứ tư: Đối tượng nào có trách nhiệm phải thi hành.
Căn cứ vào các tiêu chí trên đây, những vấn đề sau đây nhất thiết phải ban hành dưới hình thức luật:
- Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân;
- Nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ nói chung, Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp, Tòa án nhân dân các cấp, Viện Kiểm sát nhân dân;
- Việc thành lập Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở các đơn vị hành chính; thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn các loại toà trong toà án nhân dân;
- Quy định chế độ bổ nhiệm, miễn nhiệm và nhiệm kỳ của thẩm phán, chế độ bầu cử và nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân;
- Các thứ thuế;
- Tội phạm và các hình phạt; về các vấn đề nguyên tắc xác định hành vi vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý.
- Các loại tố tụng tại tòa án;
- Quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc về tổ chức và hoạt động; quyết định những chính sách cơ bản trên các lĩnh vực quan trọng của đời sống kinh tế - xã hội;
- Quy định về đại xá, đặc xá;
- Quy định về hàm cấp nhà nước; huân huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;
- Quy định về chế độ bầu cử đại biểu quốc hội và Hội đồng nhân dân;
- Những vấn đề sở hữu và quyền sở hữu;
Ngoài những vấn đề nói trên là thuộc thẩm quyền lập quy. Tuy vậy, thẩm quyền ban hành các văn bản QPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nên được giới hạn cụ thể trong các trường hợp sau đây:
- Quyết định những chính sách cụ thể trên các lĩnh vực; các biện pháp để bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh và nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Phê duyệt quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển trên các ngành, lĩnh vực;
- Quy định cụ thể về chế độ làm việc và quan hệ công tác của Chính phủ và hệ thống hành chính;
- Quyết định những chủ trương, biện pháp chỉ đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ và hệ thống hành chính nhà nước;
- Quy định chi tiết những nội dung của luật, pháp lệnh theo ủy quyền cụ thể của Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Quy định cụ thể về hành vi vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý trên các lĩnh vực;
- Quy định về thủ tục hành chính trong mối quan hệ giữa nhà nước với công dân, tổ chức;
- Được Quốc hội hoặc ủy ban thường vụ Quốc hội giao thẩm quyền ra văn bản quy định về vấn đề cụ thể thuộc thẩm quyền của Quốc hội;
- Ban hành văn bản để quy định những những vấn đề đòi hỏi cấp thiết phải được điều chỉnh bằng pháp luật nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật, sau khi xin phép và được sự đồng ý của ủy ban thường vụ Quốc hội;

2 - Phân biệt văn bản QPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với văn bản QPPL của bộ, cơ quan ngang bộ
Theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật ban hành văn bản QPPL, bộ được ban hành 3 loại văn bản QPPL: Quyết định, chỉ thị và thông tư. Ngoài ra còn hình thức thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ.
Văn bản quyết định và chỉ thị là những hình thức văn bản cơ bản, chủ yếu và cần thiết để bộ trưởng thực hiện các chức năng, thẩm quyền quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực được phân công, để chỉ đạo, điều hành các hoạt động của cơ quan, đơn vị, tổ chức trong nội bộ ngành, lĩnh vực. Nội dung những văn bản này, do vậy, được phân biệt rõ với các văn bản pháp quy của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Do rất khó phân biệt giữa tính chất của văn bản quy định chi tiết, cụ thể hoá với văn bản hướng dẫn thi hành, nên trên thực tế thông tư hướng dẫn thi hành của bộ thường bao gồm phổ biến là các quy định chi tiết, cụ thể các quy định của luật, pháp lệnh. Mặt khác, theo tinh thần các quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phải đủ cụ thể, chi tiết để có thể áp dụng được trực tiếp không cần phải hướng dẫn nữa. Do vậy, đã đến lúc nên hạn chế việc ban hành thông tư của bộ. Bộ là cơ quan thực thi chức năng quản lý, thừa hành pháp luật, nên không được tự đặt ra các quy định bắt buộc toàn xã hội phải tuân theo.
Để tập trung quyền lập quy vào Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, tăng cường hơn nữa tính thống nhất và thông suốt trong tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước, cần hạn chế phạm vi điều chỉnh của thông tư, theo đó thông tư của bộ chủ yếu chỉ để hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ có hiệu lực trong nội bộ ngành, đồng thời bỏ hẳn hình thức thông tư liên bộ (hình thức thông tư này trên thực tế rất ít được ban hành), mà nên để những văn bản của Chính phủ xử lý những vấn đề liên bộ.

3 - Kết luận
Việc phân biệt văn bản QPPL của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với các loại hình văn bản QPPL khác, mà trước hết và quan trọng nhất là với văn bản lập pháp, là vấn đề khó khăn và phức tạp, vì nó liên quan đến việc phân công, phối hợp và thực hiện quyền lực nhà nước. Thực tế cho thấy cách thức tiếp cận trong việc xác định các tiêu chí phân biệt đối với 2 loại hình văn bản này trong Luật ban hành văn bản QPPL 1996 còn quá chung chung, không rành mạch, thiếu cụ thể, nhất là quá coi nhẹ những tính chất, đặc trưng của loại hình văn bản.

Để phân biệt được, thì đồng thời với việc xác định cụ thể tính chất, phạm vi những vấn đề cần được quy định dưới hình thức luật, cần phải xác định rõ phạm vi những vấn đề, những trường hợp, những điều kiện cụ thể Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được ban hành văn bản QPPL để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình một cách chủ động, sáng tạo và phát huy được vị trí, vai trò, tác dụng tích cực của loại hình văn bản này trong quản lý, điều hành, tạo động lực cho phát triển đất nước. Thực hiện được yêu cầu này sẽ khắc phục được một thực tế tương đối phổ biến hiện nay là xây dựng và ban hành nhiều luật, pháp lệnh để điều chỉnh nhiêù vấn đề mặc dù là cơ bản, quan trọng nhưng còn thiếu tính ổn định cần thiết mà đúng ra chỉ nên để Chính phủ ban hành là thích hợp và hiệu quả hơn rất nhiều./.


Được sửa bởi QuangLT ngày Thứ Tư 02 12, 2009 4:04 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang
QuangLT đang ngoại tuyến Xem hồ sơ thành viên Gửi tin nhắn Gửi email Website của thành viên này Yahoo Messenger
Được cám ơn bởi: nguyen_huu_khoa
QuangLT

Quản Trị Cao Cấp
Quản Trị Cao Cấp
<Hình đại diện không tìm thấy>

Giới tính: Giới tính:Nam
Tuổi: 41
Ngày tham gia: 05 10 2007
Số bài: 1530
Chủ đề: 629
Cám ơn: 87
Được cám ơn 373 lần trong 234 bài
Đến từ: Sài Gòn

Bài gửiGửi: Thứ Tư 13 1, 2010 4:45 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

PHÂN BIỆT VĂN BẢN QPPL VÀ VĂN BẢN HÀNH CHÍNH CÁ BIỆT
Nguồn: www.hanhchinh.com.vn
Tác giả: nguyenvuan

- Văn bản quy phạm pháp luật là những văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục trình tự luật định trong đó có các quy tắc xử sự chung nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Văn bản cá biệt là quyết định hành chính thành văn mang tính áp dụng pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành để thực hiện nhiệm vụ quản lý thể hiện một nội dung cá biệt được áp dụng đối với một hoặc một nhóm đối tượng cụ thể.

Phân biệt theo cách tiếp cận thứ nhất

Văn bản quy phạm pháp luật phân biệt với văn bản cá biệt trên một số tiêu chí cơ bản :

1. Nội dung :
- Văn bản quy phạm pháp luật đưa ra các quy tắc xử sự chung
- Văn bản cá biệt đưa ra các quy tắc xử sự riêng

2. Đối tượng điều chỉnh:
- Văn bản quy phạm pháp luật có tác dụng điều chỉnh đối với một cộng đồng, một giai tầng trong xã hội
- Văn bản cá biệt chỉ có hiệu lực đối với một nhóm cá nhân,một cá nhân.

3. Hiệu lực thi hành:
- Văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực không phụ thuộc vào sự áp dụng
- Văn bản cá biệt chỉ có hiệu lực đối với những trường hợp cụ thể, đối tượng cụ thể và chỉ được áp dụng một lần.

4. Trình tự:
- Văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự thủ tục do luật định
- Văn bản cá biệt được ban hành không theo trình tự luật định.

Quy tắc xử sự chung và quy tắc xử sự riêng có những điểm cơ bản khác biệt sau đây :

* Chủ thể bị điều chỉnh : Quy tắc xử sự chung có đối tượng điều chỉnh rộng, là cộng đồng người giai tầng trong xã hội. Quy tắc xử sự riêng có phạm vi điều chỉnh hạn hẹp chỉ đối với một cá nhân hoặc một nhóm cá nhân nhất định.

* Hiệu lực :
- Quy tắc xử sự chung là những quy tắc xử sự tồn tại trong Văn bản quy phạm pháp luật tác động vào đối tượng quản lý thông qua các hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật được thể hiện qua hành vi của con người, có tác dụng phòng ngừa.
- Quy tắc xử sự riêng có tính đơn phương bắt buộc thi hành ngay thường là sự thể hiện thái độ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với đối tượng quản lý.
- Quy tắc xử sự chung có thể là cơ sở pháp sinh quy tắc xử sự riêng.

Phân biệt theo cách tiếp cận thứ hai

1. Thẩm quyền: Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành
- VBQPPL: Theo quy định chỉ một số cơ quan nhà nước mới có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- VBCB: Về nguyên tắc, tất cả mọi cơ quan đều có thể ban hành văn bản cá biệt để điều chỉnh nội dung thuộc thẩm quyền

2. Quy tắc xử sự
- VBQPPL:Đưa ra quy tắc xử sự chung (đưa ra chuẩn mực mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo khi tham gia vào quan hệ xã hội mà quy tắc đó điều chỉnh)
- VBCB: Giải quyết vụ việc cụ thể, cá biệt hay quy phạm nội bộ

3. Đối tượng áp dụng
- VBQPPL:Toàn xã hội hoặc 1 bộ phận xã hội, trong phạm vi toàn quốc hay từng địa phương
- VBCB: Một cá nhân hoặc một nhóm cụ thể, trong phạm vi không gian và thời gian nhất định

4. Hiệu lực thời gian
- VBQPPL:Nhiều lần
- VBCB: Một lần hay trong phạm vi nội bộ một cơ quan, tổ chức

5. Thẩm quyền, hình thức, thủ tục, trình tự ban hành
- VBQPPL:Chặt chẽ do luật định
- VBCB: Phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, thủ tục đơn giản hơn.

6. Số và ký hiệu
- VBQPPL:Có năm ban hành ở số và ký hiệu
- VBCB: Không ghi năm ban hành ở số và ký hiệu
7. Tên gọi
- VBQPPL:Luât, Pháp lệnh, Lệnh, Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư
- VBCB: Lệnh, Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị
Về Đầu Trang
QuangLT đang ngoại tuyến Xem hồ sơ thành viên Gửi tin nhắn Gửi email Website của thành viên này Yahoo Messenger
Được cám ơn bởi: nguyen_huu_khoa
QuangLT

Quản Trị Cao Cấp
Quản Trị Cao Cấp
<Hình đại diện không tìm thấy>

Giới tính: Giới tính:Nam
Tuổi: 41
Ngày tham gia: 05 10 2007
Số bài: 1530
Chủ đề: 629
Cám ơn: 87
Được cám ơn 373 lần trong 234 bài
Đến từ: Sài Gòn

Bài gửiGửi: Thứ Tư 13 1, 2010 4:52 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Bổ sung thêm:

* Sự giống nhau:
+ Do cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay nhà chức trách có thẩm quyền ban hành theo trình tự thủ tục luật định;
+ Có tính bắt buộc, tính đơn phương;
+ Tên loại văn bản cá biệt giống một số tên loại văn bản QPPL như Nghị quyết, QĐ, Chỉ thị.

* Sự khác nhau:
VBQPPL thì:
+ Chứa đựng quy tắc xử sự chung;
+ Áp dụng nhiều đối tượng hay một nhóm đối tượng;
+ Thường áp dụng nhiều lần;
+ Thường hiệu lực thời gian dài;
+ Tác động phạm vi rộng;
+ Cơ sở pháp lý cho văn bản cá biệt;
+ Ghi năm ban hành giữa số và ký hiệu.
Ví dụ:
Số : .../2006/QĐ-TTg.
Số : .../2006/QĐ-UBND.

VB cá biệt thì:
+ Chứa dựng quy tắc xử sự riêng;
+ Áp dụng một số đối tượng nhất định;
+ Áp dụng một lần;
+ Hiệu lực thời gian ngắn;
+ Tác động phạm vị hẹp;
+ Áp dụng VBQPPL để làm căn cứ pháp lý;
+ Không ghi năm ban hành giữa số và ký hiệu.
Ví dụ :
Số : .../QĐ-UBND.
Số : .../QĐ-SXD (Sở Xây dựng).
Về Đầu Trang
QuangLT đang ngoại tuyến Xem hồ sơ thành viên Gửi tin nhắn Gửi email Website của thành viên này Yahoo Messenger
Được cám ơn bởi: nguyen_huu_khoa, daknong
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Diễn đàn nghiên cứu trao đổi học thuật chuyên ngành luật -> Luật Hành chính 4 Thời gian được tính theo giờ [GMT+ 7 giờ]
Trang 1 trong tổng số 1 trang


Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
Bạn không được phép gửi kèm file trong diễn đàn này
Bạn không được phép download files trong diễn đàn này

Chủ đề tương tự
Chủ đề Tác giả Diễn Đàn Trả lời Gửi
Không có bài viết mới Mẫu đơn xin gia hạn luận văn... QuangLT Chuyên ngành Kinh tế 0 Thứ Năm 25 4, 2013 11:14 am Xem bài viết sau cùng
Không có bài viết mới Thông báo ôn tập và thi Anh vă... QuangLT Anh văn 0 Thứ Sáu 12 4, 2013 8:24 am Xem bài viết sau cùng
Không có bài viết mới Tìm các học viên được Thầy... QuangLT Chuyên ngành Kinh tế 1 Thứ Năm 27 12, 2012 9:04 pm Xem bài viết sau cùng
Không có bài viết mới Thông báo nhận quyết định gi... QuangLT Chuyên ngành Kinh tế 0 Thứ Hai 24 12, 2012 2:13 pm Xem bài viết sau cùng
Không có bài viết mới Thông báo thi Anh văn chuẩn B1 d... QuangLT Anh văn 5 CN 28 10, 2012 9:16 am Xem bài viết sau cùng


Board Security

0 Attacks blocked


Xóa cookies lưu bởi diễn đàn này
Powered by phpBB © 2001-2013 phpBB Group