Diễn đàn nghiên cứu trao đổi học thuật chuyên ngành luật
Nơi gặp gỡ của học viên luật (văn bằng I, II và sau đại học) thuộc ĐH Luật TP.HCM - Quản trị diễn đàn: Lương Thanh Quang - Nhà tài trợ: Cty Luật Hồng Long [url]http://www.honglonglaw.com[/url]
 
 Trợ giúpTrợ giúp   Tìm kiếmTìm kiếm   Thành viênThành viên   NhómNhóm 
 DownloadDownload Cá nhânCá nhân   Tin nhắn riêngTin nhắn riêng   Đăng NhậpĐăng Nhập 



Bài tập Luật đất đai

 
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Diễn đàn nghiên cứu trao đổi học thuật chuyên ngành luật -> Luật Đất Đai
Xem chủ đề cũ hơn :: Xem chủ đề mới hơn  
Tác giả Thông điệp
thanhvien

(Cấp bậc: Tập... Sinh Sự)
(Cấp bậc: Tập... Sinh Sự)
<Hình đại diện không tìm thấy>

Giới tính: Giới tính:Nữ
Tuổi: 27
Ngày tham gia: 08 10 2007
Số bài: 34
Chủ đề: 7
Cám ơn: 6
Được cám ơn 1 lần trong 1 bài

Bài gửiGửi: CN 23 10, 2011 8:54 am    Tiêu đề: Bài tập Luật đất đai Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Bài 1:
Ông A và bà B có 03 người con là C (SN: 1980), D (SN: 1982) và E (SN: 1985). Với những năm 1980 ông bà đã khai hoang được 3.8 ha đất làm rẫy sau đó chuyển sang trồng cây lâu năm và có đăng ký ở chính quyền cấp xã. Năm 1994 ông bà mượn nhà nước 0.6 ha đất nông nghiệp trồng lúa và nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà vào năm 1996. Năm 1997, ông làm giấy tờ gửi cho chính quyền cấp xã đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 3.8 ha đất trồng cây lâu năm xong chính quyền xã M đã từ chối với lý do ông được cấp GCN QSDĐ đối với 0.6ha đất trồng lúa rồi.
Năm 2005, sau khi ra quân anh D đã được nhận vào biên chế nhà nước làm việc tại Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn của huyện Y.
Năm 2006, do một cơn bạo bệnh sau khi được chữa khỏi ông A đến UBND xã M xin lập di chúc với nội dung là: ông để lại thừa kế cho 03 người con mỗi người 01 ha đất vườn và 0.2 ha đất ruộng và đã được Phó chủ tịch xã M chứng nhận di chúc đó.

Anh (chị) hãy bình luận những sự kiện về pháp luật đất đại trong tình huống trên.

Bài 2:
Xã N thuộc thành phố P là xã ven đô có 3.800 m2 đất ao hồ thuộc quỹ đất dự phòng.
Năm 1995, xã tổ chức đấu thầu cho các hộ dân có nhu cầu thuê đất trồng sen và nuôi cá và ông M đã trúng thầu.
Năm 2004, trước nhu cầu bức bách về đất ở, được sự thống nhất chỉ đạo của Đảng ủy xã, UBND đã thu hồi và thuê công ty L san lấp toàn bộ diện tích ao hồ trên. Sau đó UBND xã đã ra quyết định giao đất cho 38 hộ gia đình trong xã, mỗi hộ là 100m2 và thu tiền sử dụng đất mỗi hộ là 50 triệu đồng.
Vì mình không được giao đất nên ông M đã làm đơn khiếu kiện gửi lên UBND thành phố.

Anh (chị) hãy giải quyết tình huống trên.


Được sửa bởi QuangLT ngày CN 23 10, 2011 1:12 pm; sửa lần 1.
Về Đầu Trang
thanhvien đang ngoại tuyến Xem hồ sơ thành viên Gửi tin nhắn Yahoo Messenger
QuangLT

Quản Trị Cao Cấp
Quản Trị Cao Cấp
<Hình đại diện không tìm thấy>

Giới tính: Giới tính:Nam
Tuổi: 41
Ngày tham gia: 05 10 2007
Số bài: 1530
Chủ đề: 629
Cám ơn: 87
Được cám ơn 373 lần trong 234 bài
Đến từ: Sài Gòn

Bài gửiGửi: CN 23 10, 2011 11:49 pm    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Xin gợi ý trả lời Bài 1 như sau:

Ở đây có 2 vấn đề mà bài tập tình huống đặt ra:

Vấn đề 1: quyền sử dụng đất

Ông A bà B có 2 khu đất: khu đất 0.6ha đất nông nghiệp trồng lúa và khu đất 3.8ha đất trồng cây lâu năm.
a) đối với 0.6ha đất nông nghiệp trồng lúa: đã được nhà nước cấp giấy CN quyền sdđ vào năm 1996. Như vậy ông A bà B có quyền sử dụng hợp pháp đối với 0.6ha đất trồng lúa này (còn gọi là đất sản xuất nông nghiệp trồng cây hàng năm theo qui định tại điểm a khoản 4 NĐ181/2004).
b) đối với 3.8ha đất trồng cây lâu năm: năm 1997 ông A bà B có tiến hành nộp hồ sơ đề nghị UBND xã M cấp giấy CN quyền sdđ cho khu đất này. Xét về thẩm quyền cấp giấy CN quyền sdđ thì UBND xã M không có thẩm quyền này. Theo qui định tại khoản 2 Điều 52 LĐĐ thì thẩm quyền cấp giấy CN quyền sdđ cho hộ gđ, cá nhân thuộc UBND huyện Y. Như vậy việc UBND xã M từ chối cấp giấy CN quyền sd đối với 3.8ha đất trồng cây lâu năm của ông A bà B là không đúng thẩm quyền. Tại thời điểm đó (1997), theo qui định tại khoản 1 Điều 33 LĐĐ về việc giao đất không thu tiền sử dụng đất thì trường hợp của ông bà nếu thuộc diện trực tiếp lao động nông nghiệp dưới hình thức trồng cây lâu năm thì sẽ được giao đất nông nghiệp trong hạn mức qui định tại Điều 70 LĐĐ. Cụ thể, theo khoản 2 Điều 70 LĐĐ thì hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi hộ gđ, cá nhân không quá 10ha đối với các xã, phường thị trấn ở đồng bằng; không quá 30ha đối với xã, phường thị trấn ở trung du, miền núi. Do UBND xã M trước đây đã đồng ý để ông bà canh tác trên 3.8ha đất nông nghiệp trồng cây lâu năm ổn định suốt từ năm 1980 đến năm 1997 (có đăng ký tại UBND xã) nên UBND xã M lẽ ra đã phải lập phương án đề nghị UBND huyện Y tiếp tục giao 3.8ha đất trồng cây lâu năm nói trên cho ông bà đồng thời cấp chứng nhận QSDĐ cho ông bà căn cứ khoản 4 Điều 70 LĐĐ chứ không thể lấy lý do "hộ ông A bà B đã được cấp đất rồi" để từ chối. Những trường hợp này về sau cũng đã được luật hoá và qui định cụ thể tại khoản 1 và khoản 2 Điều 70 Nghị định 181/2004 về việc giao đất để sx nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối cho hộ gia đình, cá nhân.

Còn hiện tại ông A bà B có thể nộp hồ sơ đề nghị UBND huyện Y cấp giấy CN quyền sdđ đối với 3.8ha đất nông nghiệp trồng cây lâu năm còn lại mà không phải nộp tiền sử dụng đất căn cứ khoản 1 Điều 50 LĐĐ. Do hộ gia đình ông đã có tên trong sổ đăng ký ruộng đất hoặc sổ địa chính đối với 3.8ha đất nông nghiệp trồng cây lâu năm từ những năm 1980, hiện vẫn đang sử dụng ổn định nên chỉ cần UBND xã M xác nhận là đất không có tranh chấp là đã đủ điều kiện cấp giấy CN như đã nêu.

Vấn đề 2: Lập di chúc về việc chuyển quyền sử dụng đất

Do 3.8ha đất vườn (đất trồng cây lâu năm) và 0.6ha đất ruộng (đất trồng cây hàng năm) nói trên thuộc quyền sở hữu chung của ông A bà B nên Ông A có quyền để thừa kế QSDĐ đối với phần tài sản thuộc sở hữu riêng của mình thông qua việc lập di chúc theo qui định tại khoản 5 Điều 113 LĐĐ. Về người được nhận thừa kế QSDĐ thì các người con của ông bà là: C, D và E tất cả đều là các cá nhân có quyền được nhận thừa kế là QSDĐ theo qui định tại điểm d khoản 1 Điều 99 NĐ 181/2004.

Về hình thức thì di chúc mà ông A lập do có chứng nhận của UBND xã M nên được coi là di chúc hợp lệ. Tuy nhiên về nội dung di chúc thì tính hợp pháp vẫn chưa được rõ ràng do chưa biết bà B vợ ông A còn sống hay đã chết tại thời điểm ông A lập di chúc. Việc ông A có được toàn quyền định đoạt quyền sd đối với số đất nói trên hay không phụ thuộc vào việc người đồng sở hữu quyền sdđ với ông là bà B-vợ ông còn sống hay đã chết tại thời điểm ông lập di chúc vì ông chỉ có quyền định đoạt đối với số tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của mình trong khối tài sản chung vợ chồng mà thôi.


Được sửa bởi QuangLT ngày Thứ Hai 24 10, 2011 7:21 am; sửa lần 1.
Về Đầu Trang
QuangLT đang ngoại tuyến Xem hồ sơ thành viên Gửi tin nhắn Gửi email Website của thành viên này Yahoo Messenger
QuangLT

Quản Trị Cao Cấp
Quản Trị Cao Cấp
<Hình đại diện không tìm thấy>

Giới tính: Giới tính:Nam
Tuổi: 41
Ngày tham gia: 05 10 2007
Số bài: 1530
Chủ đề: 629
Cám ơn: 87
Được cám ơn 373 lần trong 234 bài
Đến từ: Sài Gòn

Bài gửiGửi: Thứ Ba 25 10, 2011 10:48 am    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Bài 2 xin gợi ý như sau:

Theo quy định của điều 72 luật đất đai thì các địa phương căn cứ vào đặc điểm, tình hình và quỹ đất ở từng nơi để hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định về quỹ đất dự phòng theo mức không chế tối đa không quá 5% quỹ đất nông nghiệp.

Mục đích của việc để lại đất công ích xã là xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn, hệ thống đường giao thông, trạm y tế, trường học, cơ sở văn hóa,... và dùng để bồi hoàn khi quy hoạch nằm ngoài quỹ đất dự phòng.

Theo đề bài thì 3.800m2 đất nói trên là thuộc quỹ đất dự phòng công ích. Tuy nhiên do đề bài không nói rõ là quĩ đất dự phòng công ích của xã N hiện chiếm bao nhiêu phần trăm quĩ đất nông nghiệp của xã nên ta chia làm 2 trường hợp:

+Trường hợp quĩ đất dự phòng công ích của xã nhỏ hơn hoặc bằng 5% quĩ đất nông nghiệp thì việc xã ra quyết định giao đất cho 38 hộ gia đình trong xã là sai qui định. Trong trường hợp này xã chỉ được phép cho hộ gia đình, cá nhân tại địa phương thuê đất ngắn hạn để sx nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản để tăng thu ngân sách nhà nước dùng vào nhu cầu công ích của xã - do xã quản lý sử dụng – để tránh lãng phí đất đai (khoản 2 và 3 Điều 72 LĐĐ). Trong trường hợp này ông M không thể làm đơn khiếu kiện mà chỉ có thể tố cáo tiêu cực hoặc hành vi vi phạm pháp luật đến các cơ quan chức năng.

+Trường hợp quĩ đất dự phòng công ích của xã lớn hơn 5% và diện tích 3.800m2 này là diện tích ngoài hạn mức 5% theo qui định của PL thì việc xã ra quyết định giao cho 38 hộ gia đình, cá nhân trong xã – những người chưa được giao đất hoặc thiếu đất sx – để họ trực tiếp sx nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản tại địa phương hoàn toàn là chủ trương đúng đắn, phù hợp qui định của PL tại khoản 1 Điều 72 LĐĐ. Trong trường hợp này ông không nên gửi đơn khiếu nại vì nếu có gửi đi nữa thì đơn khiếu nại của ông cũng sẽ được cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trả lời theo hướng giải thích như trên để ông được rõ.


Được sửa bởi QuangLT ngày Thứ Ba 25 10, 2011 10:53 am; sửa lần 2.
Về Đầu Trang
QuangLT đang ngoại tuyến Xem hồ sơ thành viên Gửi tin nhắn Gửi email Website của thành viên này Yahoo Messenger
Trình bày bài viết theo thời gian:   
Gửi bài mới   Trả lời chủ đề này    Diễn đàn nghiên cứu trao đổi học thuật chuyên ngành luật -> Luật Đất Đai Thời gian được tính theo giờ [GMT+ 7 giờ]
Trang 1 trong tổng số 1 trang


Chuyển đến 
Bạn không có quyền gửi bài viết
Bạn không có quyền trả lời bài viết
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết của bạn
Bạn không có quyền xóa bài viết của bạn
Bạn không có quyền tham gia bầu chọn
Bạn không được phép gửi kèm file trong diễn đàn này
Bạn không được phép download files trong diễn đàn này



Board Security

0 Attacks blocked


Xóa cookies lưu bởi diễn đàn này
Powered by phpBB © 2001-2013 phpBB Group